|
LỜI
T̉A SOẠN: Ông Lê Văn, cựu chủ biên chương
tŕnh Việt ngữ đài VOA, vừa ḥan thành cuốn sách
đầu tiên về rượu vang viết bằng
tiếng Việt, nhan đề “Rượu Vang, Món Quà
Của Thượng Đế”, được biên soạn
rất công phu.
Đoạn “Tâm T́nh” sau đây được trích ra
từ cuốn sách đó.
Bạn
bè thấy tôi ưa thích rượu vang và say mê nghiên
cứu lănh vực này trong mấy chục năm qua, đều
lấy làm lạ và nhất định hỏi cho biết
duyên cớ tại sao. Thưa: Có ǵ đâu! Tôi với rượu
vang h́nh như có mối duyên sao đó nên khi mới
bắt đầu được làm quen với nó là tôi
đă cảm thấy thích nó ngay. Chắc cũng v́ có duyên
nên tôi đă được thân phụ cho nếm rượu
vang từ rất sớm.
Ông
Bố tôi vốn là nhà Nho nhưng ra đời vào lúc Nho
học đă tàn nên ông chuyển sang học chữ Tây
rồi bỏ quê lên tỉnh t́m kế sinh nhai. Ông không
đi làm thày Thông thày Phán mà mở hăng thầu xây
cất, nhờ vậy gia đ́nh cũng khá giả. Tôi
lại là con trai duy nhất trong nhà nên được
Bố cưng chiều và thỉnh thoảng lại
được theo Bố đi ăn cơm Tây, uống rượu
vang.
Ở
nước Mỹ này con nít mà uống rượu, bất
cứ thứ rượu ǵ, cũng sẽ bị phạt
nặng. Nhưng trong nền văn hóa Pháp th́ rượu
vang là một phần không thể thiếu của bữa
ăn, và con nít Pháp từ thuở nhỏ đă bắt
đầu được Bố Mẹ cho uống rượu
vang pha với một chút nước lă. Ông Bố tôi,
trong một bữa đưa thằng con mới 9, 10
tuổi đi ăn cơm Tây, cũng cao hứng cho tôi
nếm thử một chút rượu vang pha loăng xem sao.
Thấy thằng nhỏ nhắp vào một ngụm mà không
nhăn mặt, lại c̣n tỏ vẻ thích thú, ông
lấy làm khoái chí về khoe ầm lên với mọi người
rằng con trai ông biết uống rượu vang.
Thuở
ấy, nó chỉ là một câu chuyện vui cười
trong gia đ́nh thôi, nhưng sau này nh́n lại, tôi mới
hiểu ra đó là khởi điểm cho niềm say mê rượu
vang của đời tôi.
Lớn
lên đi dạy Anh văn ở Saigon, tôi vẫn tiếp
tục t́m hiểu về rượu vang như người
ta theo đuổi một thú đam mê. Nhưng thị trường
rượu vang ở Saigon vào thời đó rất nghèo nàn
kém cỏi, nghĩa là không có rượu thượng
hạng. Ngay cả ở những tiệm sang vào cỡ
Alimentation Générale Thái Thạch trên đường Tự
Do, khách muốn t́m những chai rượu Pháp cũng
chỉ thấy có Beaujolais hay Macon Blanc là cao cấp lắm
rồi. Tôi c̣n nhớ ở giữa tiệm Thái Thạch là
một cái tủ kính lát gương để trưng bày
những chai rượu quư, có cửa khóa cẩn thận,
đèn chiếu long lanh rất đẹp, trong số đó
có mấy chai thuộc loại Grands Crus Classés ở Bordeaux,
giá đắt bằng cả một tháng lương
của tôi. Nghe đâu chủ nhân trong những chuyến
đi sang Pháp đă đích thân đem về mấy chai
với mục đích để trang hoàng cửa tiệm
nhiều hơn là để bán lấy lời v́ số lượng
quá ít.
Quả
thật là cho tới lúc ấy tôi mới chỉ được
đọc về những chai Grands Crus Classés trong sách
vở chứ chưa bao giờ được nếm
thử. Bởi vậy, tôi chỉ dám nh́n chúng như nh́n
những bảo vật mà chưa biết đến bao
giờ ḿnh mới có đủ tiền mua về thưởng
thức.
Rồi
mấy năm sau tôi được học bổng sang
Mỹ du học, chân trời rượu vang của tôi
được mở rộng hẳn ra, và ngay khi có đủ
phương tiện tài chánh, tôi liền tạo cho ḿnh
một hầm rượu vào khoảng vài ngàn chai mà
hồi đó bạn bè văn nghệ sĩ như Mai
Thảo, Phạm Đ́nh Chương, đến chơi
rất lấy làm thích thú.
Hằng
năm, sau khi đă đưa các con đi nghỉ hè như
phần đông mọi gia đ́nh, vợ chồng tôi thường
gởi con cho bà ngoại rồi trốn sang Pháp vào mùa Thu
để đi thăm các vùng làm rượu danh tiếng
nhất, từ Cognac sang Bordeaux, từ Champagne qua Bourgogne
xuống tận Chateauneuf-du-Pape. Cứ như thế trong hơn
30 năm trời.
Chúng
tôi không đi kiểu cưỡi ngựa xem hoa, coi chơi
cho biết, mà mất công đi sâu vào các làng nhỏ, t́m
cách nói chuyện với những người làm rượu,
theo bước họ từ ngoài ruộng nho vào đến
cơ sở sản xuất để nghe họ chiƯ
dẫn về những đặc tính của các loại
nho, về các vùng đất trồng nho, khí hậu,
thời tiết, phương pháp làm rượu, v.v... có
ảnh hưởng đến phẩm chất của rượu
như thế nào.
Và
sau đó, như để chứng minh những điều
vừa nói, họ cho tôi nếm rượu ngay trong
hầm, từ thùng này qua thùng khác, từ mùa nho này đến
mùa nho kia. Có năm tôi chỉ tập trung vào mấy làng
danh tiếng nhất của vùng Côte d’ Or. Năm khác, tôi
lại đi rong ruổi sang bên Ư, tới vùng Tuscany để
t́m hiểu những thứ rượu đặc sản
của vùng này. Càng đi sâu vào thế giới rất
đa dạng của rượu vang, tôi càng thấy ḿnh c̣n
nhiều điều phải học hỏi và càng muốn
học hỏi thêm.
Và
học tới đâu tôi chia sẻ với bạn bè
tới đó. Tôi quan niệm rằng rượu vang th́
phải có bạn bè cùng uống mới ngon. Bạn
của tôi gồm từ văn nghệ sĩ đến chính
trị gia, cựu quân nhân, rồi truyền thông báo chí,
nha, y, dược, sĩ, v.v... nên rất đông. Tất
cả dường như đều vui vẻ đón
nhận cái thú uống rượu vang mà tôi đem đến
cho họ.
Khi
tôi quyết định về hưu sau gần 40 năm làm
việc cho đài VOA, bạn bè hỏi: Ông về hưu
sẽ làm ǵ? Tôi trả lời: Chắc tôi sẽ viết
sách. Mọi người đều khuyên tôi nên viết
hồi kư, v́ họ biết là tôi đă có cái may mắn
làm chủ biên cho một đài phát thanh quốc tế
trong một thời gian có rất nhiều biến cố
quan trọng xảy ra cho đất nước ḿnh và
cả trên chính trường quốc tế.
Bạn
bè muốn tôi kể lại những tiếp xúc trực
tiếp của tôi với rất nhiều nhân vật đầu
năo trong chính phủ Mỹ, từ tổng thống, bộ
trưởng đến dân biểu, nghị sĩ, đại
sứ v.v..., cũng như những chuyến đi công tác
đến nhiều nơi xa lạ, từ những thị
trấn hẻo lánh ở Mă Lai Á đến khung cảnh
huy hoàng của ṭa thánh Vatican; hay những lúc tôi đi làm
phóng sự về nạn buôn lậu ma túy ở những
chỗ nguy hiểm như vùng biên giới giữa 3 nước
Lào, Thái, Miến, gọi là vùng Tam Giác Vàng; hoặc lúc tôi
tới khúc sông Mékong ở biên giới Việt-Miên để
tường thuật về số phận thảm thương
của những người Việt bị nạn “cáp-duồn”,
tức là bị dân Miên nổi lên giết chết,
một đêm bị chém tới gần 300 thủ cấp,
nên hốt hoảng chạy về Việt Nam mà không
được nhà cầm quyền Việt Nam nhận cho
tị nạn. Nhiều người đă bảo tôi:
“Những chuyện như vậy ông nên viết lại
trong hồi kư, về sau rất quư“.
Vâng,
chuyện viết hồi kư th́ cứ để hồi sau
sẽ hay. Nhưng ngay lúc này, tôi muốn dành trọn th́
giờ để viết một cuốn sách về rượu
vang, cái thú đam mê mà tôi đă từng theo đuổi
trong suốt cả cuộc đời. Một lư do nữa
khiến tôi muốn làm điều đó trước là v́
khi t́m kiếm trong thư tịch VN, cả ở hải
ngoại lẫn ở trong nước, tôi không hề
thấy một cuốn sách nào viết về đề tài
này một cách đầy đủ và nghiêm chỉnh.
Vậy nếu một người từng say mê nghiên
cứu rượu vang như tôi mà c̣n không bỏ công ra
viết th́ ai viết đây?
Nhưng
rồi tôi lại đâm “rét”. Bây giờ không phải
chuyện giỡn nữa, liệu ḿnh đă đủ công
lực để nhảy ùm vào địa hạt mới này
như một chuyên gia thực sự không? Cách duy nhất
để có câu trả lời là đi lấy
“credentials”, tức là một cái chứng chỉ hay
bằng cấp của một viện đại học như
UC Davis hay một học viện chuyên môn như The Society Of
Wine Educators.
Tôi
bèn bỏ th́ giờ ra đi học, và học rồi
mới thấy là mớ kiến thức và kinh nghiệm
kiểu “amateur” của tôi trong hơn 30 năm qua cũng
chỉ đủ để tán dóc với bạn bè cho vui
trong những lúc trà dư tửu hậu nhưng chưa
đủ để chỉ dẫn cho ai cả. Đến
hết khóa học, tôi đi dự những kỳ thi cùng
với các học viên người Mỹ cũng như người
từ các nước Âu châu, Úc châu gởi sang và đă có
được cái chứng chỉ Chuyên Gia Về Rượu
Vang gọi là Certified Specialist Of Wine. Cũng chẳng
phải là ghê gớm ǵ, nhưng đủ để
biết chắc là kiến thức của ḿnh không thua kém
các chuyên gia ngoại quốc, yên trí được
một chuyện.
Khi
bắt đầu viết cuốn sách về rượu
vang, tôi cho rằng chắc cũng chẳng mất nhiều
công phu và th́ giờ cho lắm. Tôi chỉ cần lấy
một đống sách bằng tiếng Anh và tiếng Pháp
mà nhiều chuyên gia danh tiếng đă viết trước
đây rồi mô phỏng theo đó mà làm ra cuốn sách
của ḿnh. Nhầm to! Đến khi thực sự bắt tay
vào việc mới biết chuyện không phải giản
dị như vậy.
Thứ
nhất là khi đọc kỹợ lại các tác giả
Mỹ và Pháp, tôi thấy không đồng ư hoàn toàn
với một người nào cả, về sự lựa
chọn đề tài cũng như cách tŕnh bày những
điều cần biết. H́nh như ai cũng ham
“giảng” mà không ai chịu “chỉ” một cách
dễ hiểu, kiểu “ḿ ăn liền”. Tôi bèn bỏ
công cấu tạo một sườn bài mà tôi hài ḷng là
sẽ “hữu ích ngay” cho độc giả.
Chưa
hết. C̣n rất nhiều vấn đề khó khăn
tiềm ẩn ở bên trong. Tôi chỉ xin đan cử
một khó khăn tiêu biểu là vấn đề từ
ngữ. Người Tây phương khi viết về rượu
vang đă có sẵn nhiều cuốn từ điển
(glossary of wine terms) gồm những chữ đă được
công chúng nghe quen, chấp nhận và xử dụng hằng
ngày. C̣n tôi khi viết bằng tiếng Việt mà muốn
t́m những danh từ, động từ hay h́nh dung từ
cho chính xác để mô tả hay chỉ định rượu
vang th́ là cả một vấn đề khó khăn
phức tạp.
Thí
dụ như chữ “dry” của tiếng Anh. “Dry” có
nghĩa là khô. Người Tây phương đều dùng
cái ư niệm dry để đối chọi với ư
niệm sweet (ngọt) khi mô tả rượu. Chỉ
cần nói ly rượu này “dry”, hay “sec” hay “seco” là
người ta hiểu ngay rằng vị của nó không
ngọt. Nhưng nếu tôi phiên dịch một cách ngu ngơ
là ly rượu này khô th́ đồng bào của tôi đọc
lên sẽ cười bể bụng. Rượu là
chất lỏng, làm sao mà khô được? Tôi đành
phải nói là “không ngọt” mặc dầu nó hơi dài
ḍng.
Một
thí dụ khác: Để phân biệt rượu sủi
bọt như Champagne với rượu thường,
ở thể tĩnh lặng, người Tây phương dùng
2 chữ “Sparkling Wine” và “Still Wine”. Nhưng nếu tôi
gọi đó là rượu “tĩnh lặng” th́ nghe
giống như nhà sư ngồi thiền hơn là ly rượu
chát. Hay cứ nói một cách giản dị là rượu
thường chăng? Cũng không ổn. Rơ ràng đây là
chai Mouton-Rothschild, Premier Cru Classé, làm sao tôi dám gọi nó là
rượu thường chỉ v́ nó không sủi bọt?
Và “Sparkling Wine” mà gọi là Rượu Sủi Bọt
th́ cũng chưa chỉnh lắm. Rượu Bia cũng
sủi bọt kia ḱa.
Đại
khái, những cái khó của người đi tiên phong khai
phá một vùng đất mới nó lỉnh kỉnh và không
tiên liệu được như vậy. Thôi th́ đành
cứ dùng tạm những từ ngữ nào mà ḿnh nghĩ
là tương đối đúng nhất, đồng
thời mở một cái ngoặc để ghi những
từ tương đương bằng tiếng Anh và
tiếng Pháp như những tiêu chuẩn quốc tế cho
độc giả dễ tham khảo. Ở cuốn sách
đầu tiên này, tôi không muốn dùng từ ngữ
một cách gượng ép quá, và tự nhủ sẽ
soạn một Từ Điển Rượu Vang trong một tương
lai gần đây.
Một
cái khó khăn nữa là làm sao dùng những câu ngắn
gọn, giản dị, không cầu kỳ văn vẻ,
để diễn giải một đề tài c̣n xa
lạ phần nào đối với người Việt chúng
ta, mà không bị bạn bè trong văn giới cười
là ngô nghê. Vậy nên, muốn cho cuốn sách này dễ
đọc, dễ hiểu đối với mọi
tầng lớp độc giả, kể cả thế
hệ trẻ lớn lên ở nước ngoài, tôi đă
dùng rất nhiều h́nh ảnh để dẫn giải
thay v́ viết dài ḍng. Tôi vẫn tin câu ngạn ngữ
của Tây phương rằng “Một tấm h́nh có
hiệu quả bằng một ngh́n lời mô tả.”
Một
điều khác nữa cũng làm tôi băn khoăn trăn
trở khá nhiều là nên viết những ǵ và nên bỏ
những ǵ trong cái địa hạt rượu vang
hết sức phong phú và đa dạng này. Mỗi chương,
hay mỗi phần của một chương tôi viết
ở đây đều có thể tự nó là đề tài
cho cả một cuốn sách được.
Thí
dụ chương Bốn nói về Các Vùng Sản
Xuất Rượu Vang Trên Thế Giới th́ trong đó
mỗi nước như Pháp, Mỹ, Ư, Tây Ban Nha, Bồ
Đào Nha, v.v... chỉ được dành cho một đoạn
ngắn. Trong khi ấy, Robert Parker viết ra cả một
cuốn sách dày 540 trang chỉ để nói về một
vùng Bordeaux của nước Pháp mà thôi. Bởi vậy,
việc tỉnh lược loại bỏ là chuyện
bắt buộc.
Vị
tiền bối lăo thành Alexis Lichine, người đă
được dân Mỹ tặng cho cái danh hiệu là Giáo
Chủ của Rượu Vang (The Pope of Wine), đă dành
một phần lớn cuộc đời ḿnh để hoàn
thành cuốn Bách Khoa Tự Điển về Rượu Vang,
Encyclopedia of Wine. Ai muốn biết bất cứ điều
ǵ về lănh vực này chỉ cần mở cuốn sách
của ông ra t́m kiếm là có hết. Tôi không dám, và cũng
không hề có tham vọng làm như vậy. Tôi chỉ
muốn viết một cuốn sách dễ đọc, tŕnh
bày những kiến thức cần biết và tóm gọn
để giúp người đọc thưởng thức
rượu vang một cách tự tín và thú vị hơn
phần nào.
Cuốn
sách tuy sơ lược giản dị nhưng là công tŕnh
đúc kết của nhiều ngày đêm làm việc.
Nhiều lúc tôi tự hỏi không biết kết quả
tạo ra có tương xứng với những công tŕnh
đó hay không, hay là ḿnh lại mang tâm trạng giống
như ông Giả Đảo đời Đường.
Ông
này mất 3 năm suy nghĩ g̣ gẫm măi mới làm ra
được 2 câu thơ (Nhị cú tam niên đắc). Làm
xong ngâm lên, nghĩ thương cho công tŕnh của ḿnh mà
rơi 2 hàng nước mắt (Nhất ngâm song lệ lưu).
Vậy mà nếu những khách tri âm lại không thưởng
thức (Tri âm như bất thưởng). Th́ ông đành
quay về ngủ trong mùa Thu trên dăy núi xưa thôi (Quy
ngọa cố sơn Thu).
Nếu
cuốn sách khiêm nhượng này của tôi mà được
nhiều bạn tri âm trên cơi đời này thưởng
thức, th́ đó chính là niềm ước mong của tác
giả vậy.
Houston,
Mùa Thu năm Ất Dậu, 2005
Lê Văn
Trích
từ sách “Rượu Vang, Món Quà của Thượng
Đế”, 216
trang láng, h́nh màu lộng lẫy.
|